Hai vị thuốc y học cổ truyền có tác dụng hồi dương cứu nghịch
Mất:4 phút, 2 giây để đọc.

Thuốc hồi dương cứu nghịch là khái niệm khá xa lạ. Nhưng nó lại rất quen thuộc trong y học cổ truyền. Thuốc hồi dương cứu nghịch là thuốc có tác dụng lấy lại phần dương khi chân dương suy giảm. Hoặc khi thoát dương, khi hàn tà nhập lý. Hoặc khi tạng phủ hư hàn như tâm dương hư, thận dương hư, gây ra cơ thể lạnh, chân tay lạnh, lưng đau, sôi bụng, tiết tả.

Bài viết này sẽ trình bày về hai vị thuốc y học cổ truyền có tác dụng hồi dương cứu nghịch. Đó chính là phụ tử và ngô thù du. Hai bài thuốc này sẽ cho các bạn nhiều kiến thức hay về hồi dương cứu nghịch. Đây là những kiến thức cơ bản nhất của y học cổ truyền nó chung. Từ đó có cách bảo đảm sức khỏe của mình tốt hơn.

Phụ tử – thuốc hồi dương cứu nghịch đáng quý

Nguồn gốc: Từ sinh phụ tử (củ nhánh cây ô đầu thuộc chi Aconitum, họ Hoàng liên Ranunculaceae) được chế thành hắc phụ, bạch phụ, diêm phụ,còn được gọi là phụ tử chế

TVQK: vị cay, ngọt, đại nhiệt; tâm, thận, tỳ

Phụ tử là thuốc ít người biết.
Phụ tử là thuốc ít người biết.

Công năng chủ trị của phụ tử

Hồi dương cứu nghịch: dùng khi tâm thận dương hư, khi thoát dương, khi bị nôn nhiều, người lạnh toát, chân tay co quắp.
Khứ hàn, giảm đau: Dùng trong các chứng phong hàn, thấp, tý, chứng đau nhức xương khớp, chân tay đau nhức do lạnh, hoặc do khí huyết không lưu thông tốt.

Ấm thận: dùng khi bị viêm thận mạn tính, hoặc chức năng thận dương suy kém, dương khí không đủ, lưng gối đau lạnh, khi chân tay phù nề ( dùng trong bài chân vũ thang, dùng trong bát vị quế phụ,…)

– Kiện tỳ vị: khi tỳ vị hư hàn

Liều dùng: 4-12g

Kiêng kỵ: những người âm hư dương thịnh, phụ nữ có thai không được dùng, trẻ em dưới 12 tuổi không dùng

Phụ tử có nhiều công năng trong y học.
Phụ tử có nhiều công năng trong y học.

Tác dụng dược lý của phụ tử

– Aconitin là alcaloid rất độc trong sinh phụ tử, trong chế biến chuyển thành benzoyl aconin và aconin có tác dụng cường tim rất yếu.

– Các tác giả Nhật cho rằng chất Higenamin/ phụ tử có tác dụng cường tim. Trên cho gây mê liều 1-4μg/kg làm tăng nhịp tim và tuần hoàn mạch vành.

– Các tác giả Trung Quốc lại cho rằng thành phần có tác dụng cường tim là một chất có PƯ alcaloid không rõ rệt, chất này khó tan trong benzen, ether và cloroform, dễ tan trong nước và cồn, xử lý với acid và base không có tác dụng cường tim.

– Tác dụng cường tim còn liên quan đến nồng độ rất cao của Ca2+ trong phụ tử.

– Nước sắc với thời gian dài của ô đầu và phụ tử trên tim cô lập của chuột lang và ếch đều thể hiện tác dụng cường tim, thời gian sắc càng lâu tác dụng cường tim càng mạnh và độc tính càng giảm. (thời gian sắc càng lâu nồng độ của Ca2+ càng tăng, nếu loại bỏ Ca2+ thì tác dụng cường tim cũng mất, do đó người ta cho rằng tác dụng cường tim là do Ca2+).

– Có lẽ chất có tác dụng hồi dương cứu nghịch trong phụ tử ứng dụng trong YHCT liên quan đến các chất có tác dụng cường tim này.

Ngô thù du – thuốc hồi dương cứu nghịch ít biết

Là quả chín phơi khô của cây ngô thù du Evodia rutaecarpa, họ Cam Rutaceae

Ngô thù du khi dùng cần sao qua

TVQK: cay, đắng, ấm; can thận, tỳ, vị.

 

Ngô thù du cũng là bài thuốc đáng quý.
Ngô thù du cũng là bài thuốc đáng quý.

Công năng chủ trị của ngô thù du.

Khử hàn chỉ thống: dùng khi bị Đau bụng, đau sườn ngực. Khi đau đỉnh đầu do lạnh. Hoặc phát cước khí do lạnh. Phối hợp đinh hương, tiểu hồi hương trị chứng hàn sán.

Giáng nghịch chỉ nôn: dùng khi vị hàn, khí nghịch gây nôn lợm, nuốt chua. Dùng bột ngô thù uống với nước sôi để nguội ngày 4g.

Nôn khan, nôn nhiều dãi, đau bụng dùng bài Ngô thù du thang: ngô thù 6g, đảng sâm 12g, đại táo 12g, sinh khương 20g, sắc uống.

Liều lượng chỉ dùng: 4-12g.

Kiêng kỵ: những người huyết hư, cơ thể nhiệt, PNCT không được dùng.

Các bạn có thể tìm thêm các thông tin liên quan tại: Y học cổ truyền.

Nguồn: duocthu.com